1. Một số hình ảnh tiêu biểu của đơn vị:

hinh1
Hình 1: Mặt tiền Bộ môn Công nghệ Nhiệt lạnh tại Tòa nhà B5

hinh2
Hình 2: Đội ngũ giảng viên của Bộ môn Công nghệ Nhiệt lạnh (Năm 2017)

hinh3
Hình 3: Trang thiết bị thực hành/thí nghiệm của Bộ môn Công nghệ Nhiệt lạnh

hinh4
Hình 4: Tổ chức Hội thảo Quốc tế về nghiên cứu khoa học


hinh5
Hình 5: Hoạt động trao học bổng thường niên cho sinh viên

 
hinh6
Hình 6: Hoạt động ký kết hợp tác với doanh nghiệp


hinh7
Hình 7: Tham quan và tư vấn cho doanh nghiệp


2. Giới thiệu chung

Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh thuộc khoa Cơ Khí trường Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập vào ngày 22/01/2002. Tiền thân của bộ môn là Trung Tâm Nghiên Cứu Thiết Bị Nhiệt và Năng Lượng Mới thành lập từ năm 1986 cũng như trước đó là Bộ môn Cơ Lưu Chất – Nhiệt thành lập năm 1975 dựa trên cơ sở từ một số Thầy có cùng chuyên môn trong lãnh vực Nhiệt lạnh của Học viện Kỹ thuật Phú Thọ kết hợp với một số Thầy từ miền Bắc mới chuyển vào. Trải qua lịch sử phát triển lâu dài, Bộ môn hiện nay đang quản lý chương trình đào tạo Đại học ngành Kỹ thuật nhiệt (chuyên ngành Kỹ thuật nhiệt lạnh), chương trình Thạc sĩ ngành Kỹ thuật nhiệt và chương trình Tiến sĩ ngành Công nghệ và thiết bị nhiệt. Các lĩnh vực chuyên môn của bộ môn bao gồm: nhiệt công nghiệp, trung tâm nhiệt điện, kỹ thuật sấy, kỹ thuật lạnh và điều hòa không khí, năng lượng tái tạo, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng. Trải qua quá trình xây dựng và phát triển, bộ môn đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học.
     ¤ Triết lý giáo dục:
Mỗi giảng viên và sinh viên của Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh đều tâm niệm với triết lý giáo dục rằng việc dạy và học giúp cho sinh viên dần trở thành những CÁ NHÂN TRỌN VẸN VỀ TRÍ TUỆ, KỸ NĂNG VÀ NHÂN CÁCH SỐNG.
     ¤ Tầm nhìn:
    - Trở thành đơn vị hàng đầu của Việt Nam về đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực nhiệt, lạnh và điều hòa không khí, bảo toàn năng lượng và năng lượng tái tạo;
    - Đạt trình độ tiếp cận với các đơn vị liên quan của các trường đại học có chất lượng cao trong khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á.
    ¤ Sứ mạng:
    - Đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật có trình độ cao:
      + Đóng góp cho sự phát triển trong các lĩnh vực kỹ thuật nhiệt, lạnh và điều hòa không khí, bảo toàn năng lượng và năng lượng tái tạo ở Việt Nam;
       + Có thể làm việc trong môi trường đa ngành và đa văn hóa;
    - Kết hợp có hiệu quả giữa công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học – chuyển giao công nghệ;
    - Đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động liên quan ở Việt Nam.
     ¤ Khả năng về nghề nghiệp:
Sinh viên tốt nghiệp ngành Kỹ thuật nhiệt có thể làm việc trong những lĩnh vực sau:
    - Các công việc liên quan đến lĩnh vực lạnh công nghiệp – điều hòa không khí như:
       + Thiết kế hệ thống lạnh công nghiệp, điều hòa không khí và các thiết bị nhiệt khác có liên quan;
       + Giám sát và triển khai thi công các hệ thống lạnh công nghiệp, điều hòa không khí trung tâm và dân dụng;
       + Kinh doanh các thiết bị nhiệt – lạnh và các thiết bị phụ trợ có liên quan;
     + Vận hành, bảo trì các hệ thống lạnh công nghiệp, điều hòa không khí trong các nhà máy, xí nghiệp, cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại, nhà máy thủy hải sản, kho cấp – trữ lạnh, …;
    - Các công việc liên quan đến lĩnh vực nhiệt điện, nhiệt công nghiệp như:
      + Thiết kế các thiết bị cung cấp nhiệt (lò hơi, calorifer…) phục vụ cho các quy trình trong các nhà máy, xí nghiệp như nhà máy giấy, nhà máy chế biến thực phẩm, dệt may, mía đường, ngành nhựa – chất dẻo, xí nghiệp dược phẩm, ...;
       + Chế tạo, sản xuất, kinh doanh các thiết bị nói trên;
       + Giám sát, triển khai thi công các hạng mục trong nhà máy nhiệt điện;
       + Vận hành, bảo trì các hệ thống cung cấp nhiệt trong các xí nghiệp, nhà máy, khu công nghiệp.
    - Các công việc thuộc lĩnh vực năng lượng tái tạo và sử dụng hiệu quả năng lượng như:
       + Tư vấn thiết kế và thi công các hệ thống sử dụng năng lượng tái tạo;
     + Tư vấn các giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm trong các lĩnh vực liên quan đến sản xuất công nghiệp và dân dụng;
       + Kinh doanh các thiết bị tiết kiệm năng lượng và các hệ thống sử dụng năng lượng tái tạo.
     ¤ Nhu cầu đào tạo:
Hàng năm bộ môn tiếp nhận từ 70 đến 90 sinh viên đại học và từ 5 đến10 học viên cao học. Theo thống kê hàng năm gần đây thì các sinh viên vừa tốt nghiệp đều nhanh chóng tìm được việc làm phù hợp với chuyên ngành đã học. So với nhu cầu tuyển dụng kỹ sư ngành Nhiệt Lạnh hiện nay từ các doanh nghiệp, số lượng sinh viên tốt nghiệp từ Bộ môn đã không kịp đáp ứng cho xã hội, thậm chí nhiều sinh viên chưa ra trường đã được các doanh nghiệp hoạt động liên quan đến lãnh vực nhiệt lạnh tuyển dụng.
     ¤ Cơ hội học bổng hàng năm cho sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật Nhiệt lạnh:
Nhờ mối quan hệ hợp tác chặt chẽ từ nhiều năm qua với các doanh nghiệp trong và ngoài nước, Bộ môn Công nghệ Nhiệt lạnh là một trong những đơn vị hàng đầu trong trường Đại học Bách Khoa có nguồn kinh phí học bổng cho sinh viên đều đặn với giá trị cao. Hàng năm bộ môn tiếp nhận trung bình từ 100 đến 150 triệu (liên tục từ năm 2014 đến nay) tiền học bổng tài trợ từ các công ty lớn trong lãnh vực Nhiệt lạnh, điển hình có thể kể đến như:
     • Công ty Daikin
     • Công ty Mitsubishi
     • Công ty Bitzer
     • Công ty Hisense – Hitachi
     • Công ty Coteccons
     • Vv…
Với giá trị trung bình mỗi suất học bổng khoảng 5 triệu/SV, nguồn học bổng thường niên trên đã được trao đến khoảng 20 – 30 lượt sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật Nhiệt lạnh mỗi năm thông qua nhiều đợt trao học bổng mà Bộ môn phối hợp với các công ty tổ chức. Học bổng này đã giúp cho nhiều em sinh viên có thành tích học tập tốt hoặc có hoàn cảnh khó khăn có thêm kinh phí hỗ trợ và tạo động lực phấn đấu cho các em trong suốt quá trình học tập.


3. Đội ngũ nhân sự
                                                                   
                                         

hinh8
hinh9
hinh10

4. Đào tạo
     ¤ Sau đại học:
    • Quản lý đào tạo thạc sĩ ngành Kỹ thuật nhiệt và đào tạo tiến sĩ ngành Công nghệ và thiết bị nhiệt từ năm 2002 đến nay.
    • Giảng dạy mỗi năm 15 môn học chuyên ngành.
    • Hướng dẫn luận văn thạc sĩ đều đặn mỗi học kỳ.
    • Hướng dẫn nghiên cứu sinh (NCS): hiện đang có 04 NCS, trong đó có 2 NCS đã hoàn tất luận án (đã bảo vệ Luận án TS cấp Khoa – 7/2017, đang hoàn thành thủ tục bảo vệ Luận án TS cấp Trường).
     ¤ Đại học:
     • Quản lý đào tạo đại học chính quy ngành Kỹ thuật nhiệt (chuyên ngành Kỹ thuật nhiệt lạnh).
     • Giảng dạy mỗi năm 23 môn học chuyên ngành.
     • Giảng dạy môn học cơ sở Nhiệt động lực học & truyền nhiệt cho sinh viên đại học chính quy toàn khoa Cơ Khí, khoa Kỹ thuật giao thông, khoa Khoa học ứng dụng.
     • Giảng dạy môn học cơ sở Truyền nhiệt và thiết bị trao đổi nhiệt cho sinh viên đại học chính quy toàn khoa Công nghệ vật liệu.
     • Giảng dạy môn học Truyền nhiệt cho chương trình Việt-Pháp - PFIEV
    • Giảng dạy bằng tiếng Anh các môn học Thermal Physics, Thermodynamics và Thermodynamics and Heat Transfer cho các chương trình đào tạo quốc tế (Tiên tiến, Chất lượng cao, vv…) của Văn phòng đào tạo quốc tế - Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM (OISP - Office for International Study Programs).
     • Giảng viên của bộ môn tham gia giảng dạy môn học Nhập môn kỹ thuật (cho sinh viên năm nhất khoa Cơ khí) và môn học Soft Skills (cho sinh viên OISP học kỳ Pre-University).
     • Giảng dạy môn học Nhiệt động lực học & truyền nhiệt cho hệ Vừa làm vừa học và môn học Nhiệt động lực học cho hệ Cao đẳng Bảo dưỡng công nghiệp của trường.


5. Một số hướng nghiên cứu chính của Bộ môn

» Tiếp tục chuyên sâu hơn nữa về các lĩnh vực kỹ thuật nhiệt, kỹ thuật lạnh công nghiệp và kỹ thuật điều hòa không khí.
» Phát triển nghiên cứu, đào tạo các lĩnh vực rất đang được quan tâm như:
     Máy lạnh hấp thụ
     Làm lạnh bay hơi và tách ẩm bằng chất hút ẩm.
     Tác nhân lạnh thân thiện với môi trường.
     Tích trữ lạnh trong kỹ thuật điều hoà không khí.
     Các công nghệ và thiết bị nhiệt đạt hiệu suất cao và bảo vệ môi trường.
     Tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng trong các nhà máy công nghiệp nhẹ, trong các toà nhà, khách sạn.
     Năng lượng gió: sử dụng năng lượng gió để phát điện và bơm nước.
     Năng lượng mặt trời: sử dụng năng lượng mặt trời để làm lạnh, sản xuất nước nóng và chưng cất nước; phát triển một số mô hình về nhà mặt trời.
     Xây dựng cơ sở dữ liệu về bức xạ mặt trời và gió.
     Sử dụng nhiên liệu sinh khối (trấu, bã mía,…) để sản xuất nhiệt và điện.


6. Danh sách các đề tài nghiên cứu gần đây

Trong thời gian qua, Bộ môn đã thực hiện nhiều đề tài cấp tỉnh, cấp thành phố, cấp bộ và cấp trường được nghiệm thu và đánh giá tốt.

STT Tên đề tài Chủ nhiệm
1 Mô tả toán học và viết chương trình tính toán hệ thống máy lạnh Ejector (2016-2017).  Lê Chí Hiệp
2 Nghiên cứu xác định một số đặc tính kỹ thuật của bộ trao đổi nhiệt compact ứng dụng trong máy điều hòa không khí cỡ nhỏ làm việc với môi chất lạnh CO2 (2015-2017).  Lê Chí Hiệp
3 Decentralized Renewable Energy Systems for Isolated Communities (Dự án hợp tác khoa học quốc tế, NICOP-ONRG, Mỹ) (2015-2018).  Lê Chí Hiệp (Chủ trì)
 Hà Anh Tùng (Tham gia)
4 Nghiên cứu khả năng ứng dụng năng lượng mặt trời để đáp ứng các nhu cầu về điều hòa không khí (cấp bộ - đã nghiệm thu).  Lê Chí Hiệp
5 Xây dựng chương trình năng lượng tái tạo và sử dụng hiệu quả năng lượng (cấp đại học quốc gia – đã nghiệm thu).  Lê Chí Hiệp
6 Nghiên cứu chế tạo thử nghiệm ống nhiệt mặt trời để cấp nhiệt cho máy lạnh hấp thụ H2O-LiBr trong điều kiện Việt Nam (cấp bộ, trọng điểm – đã nghiệm thu).  Lê Chí Hiệp
7 Nghiên cứu các bộ biến đổi năng lượng điện mặt trời cải thiện hiệu suất và giải pháp giao tiếp mạng cho các nguồn điện mặt trời phân tán trong lưới điện hiện đại (cấp bộ, trọng điểm – thực hiện 2012 đến 2014).  Lê Chí Hiệp (đồng chủ trì đề tài)
8 Hoàn thiện thiết kế và triển khai ứng dụng bộ hâm nước tận dụng nhiệt thải công nghiệp để tiết kiệm nhiên liệu (cấp trọng điểm đại học quốc gia – đã nghiệm thu).  Nguyễn Văn Tuyên
9 Nghiên cứu đặc tính thuỷ động học và xác định các tiêu chuẩn không thứ nguyên ở chế độ tầng sôi của một số biomass để phục vụ công nghệ biến đổi năng lượng (cấp trọng điểm đại học quốc gia – đã nghiệm thu).  Nguyễn Văn Tuyên 
10 Nghiên cứu chế tạo động cơ Stirling công suất 500W (cấp Sở, 2015 -2017).  Hà Anh Tùng
11 Nghiên cứu tối ưu hóa công nghệ mới sản xuất nước đá cây với tốc độ nhanh thay thế cho công nghệ cũ có tốc độ chậm hiện nay để giảm chi phí đầu tư và vận hành (cấp trọng điểm đại học quốc gia – đã nghiệm thu 2012).  Hà Anh Tùng
12 Nghiên cứu chế tạo động cơ gió kiểu mới quy mô gia đình (đã nghiệm thu 2013).  Hà Anh Tùng 
13 Nghiên cứu tính toán thiết kế máy lạnh hấp thụ NH3 – H2O loại gián đoạn để sản xuất nước đá.  Võ Kiến Quốc
14 Đánh giá hiệu quả năng lượng chu trình sản xuất nước đá khô CO2 kết hợp máy lạnh hấp thụ.  Nguyễn Minh Phú 

 


7. Cơ sở vật chất

Bộ môn đã hoàn thiện việc xây dựng Phòng thí nghiệm Nhiệt Động và Truyền Nhiệt với nhiều thiết bị hiện đại phục vụ nghiên cứu, đào tạo Đại học, Sau đại học, Nghiên cứu sinh trong các lĩnh vực nhiệt, lạnh, điều hòa không khí, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng. Bộ môn luôn tạo điều kiện cho sinh viên, học viên cao học tiếp cận với các thiết bị, mô hình trong phòng thí nghiệm thông qua các môn học Thí nghiệm, thực tập do bộ môn quản lý.


Danh sách trang thiết bị phục vụ đào tạo và nghiên cứu của Bộ môn

hinh11
hinh12
hinh13
hinh14
hinh15
hinh16
hinh17
hinh18



8. Các môn học

Các môn học hiện do bộ môn quản lý và tham gia giảng dạy:

 

STT

 

Tên môn học

     

     Mã MH       

 

   Cao học  

       Đại học       
CQ TC
1   Bơm, quạt, máy nén ME2039   X   
  Nhiệt động và truyền nhiệt  ME2041    X   
  TN nhiệt động & truyền nhiệt ME2014    X   
  Kỹ thuật lạnh  ME3035    X   
  Điều hòa không khí  ME3037    X   
  Kỹ thuật sấy  ME3041    X   
  Lò hơi và thiết bị đốt  ME3043    X   
  Năng lượng tái tạo  ME3045     
  Đo lường và tự động hóa các quá trình nhiệt lạnh  ME4013    X   
10    Trung tâm nhiệt điện  ME4015    X   
11    Vật liệu nhiệt lạnh  ME4301    X   
12    Kỹ thuật cháy ME4303    X   
13    Tuabin hơi và tuabin khí  ME4305    X   
14    Kinh tế năng lượng  ME4307    X   
15    Lắp đặt, vận hành, sửa chữa hệ thống lạnh  ME4309    X   
16    Điện trong kỹ thuật lạnh  ME4311    X   
17    Anh văn chuyên ngành  ME4313    X   
18    Đồ án chuyên ngành (Kỹ thuật nhiệt)  ME4053    X   
19    Thực tập kỹ thuật (Kỹ thuật nhiệt)  ME2029    X   
20    Thực tập tốt nghiệp (Kỹ thuật nhiệt)  ME3039    X   
21    Đề cương luận văn tốt nghiệp (Kỹ thuật nhiệt)  ME4091    X   
22    Luận văn tốt nghiệp (Kỹ thuật nhiệt)  ME4039    X   
23    Nhập môn kỹ thuật  ME1001    X   
24    Truyền nhiệt  0250 12     
25    Nhiệt động  0250 55  X     
26    Quá trình cháy  0250 57  X     
27    Năng lượng tái tạo  0250 58  X     
28    Máy lạnh hấp thụ trong kỹ thuật điều hòa không khí  0250 59  X     
29    Trung tâm nhiệt điện  0250 60 X     
30    Bảo toàn và quản lý năng lượng  0250 61  X     
31    Phương pháp thực nghiệm  0250 62  X     
32    Thu hồi nhiệt thải  0250 63  X     
33    Dòng hai pha  0250 64  X     
34    Kỹ thuật lạnh công nghiệp  0250 65  X     
35    Phương pháp số trong truyền nhiệt  0250 66  X     
36    Tối ưu hóa hệ thống năng lượng trong nhà máy  0250 67  X     
37    Ứng dụng phân tích Exergy trong công nghiệp  0250 68  X     
38    Biến đổi khí hậu và phát triển bền vững  0250 69  X     

 


9. Sách xuất bản

 

 



STT

 



Tên sách

 

  Tên nhà xuất bản        

 


Năm xuất bản

 



Tên tác giả


Tên đồng tác giả

(nếu có)
 Ngoài nước Trong nước
1   Tóm tắt lý thuyết và bài tập bơm ly tâm và đường ống   ĐHQG TP.HCM 2016 Nguyễn Minh Phú   
2   Công nghệ lạnh và điều hòa không khí   ĐHQG TP.HCM 2014 Bùi Ngọc Hùng   
3   Cơ sở truyền nhiệt và thiết kế thiết bị trao đổi nhiệt   ĐHQG TP.HCM 2013 Hoàng Đình Tín   

4
  Ứng dụng năng lượng mặt trời để đun nước nóng và sản xuất nước ngọt từ nước biển   ĐHQG TP.HCM 2012 Hoàng Đình Tín  Hoàng Thị Nam Hương 
5   Nhiệt Công Nghiệp (tái bản lần 2)   ĐHQG TP.HCM 2011 Hoàng Đình Tín   
6   Giáo trình kỹ thuật điều hòa không khí   ĐHQG TP.HCM 2010 Lê Chí Hiệp   

 

7

  Tiềm năng và phương hướng khai thác các dạng năng lượng tái tạo ở Việt Nam   Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư 2009 Lê Chí Hiệp   

 

8

  Bài tập nhiệt động lực học và Truyền nhiệt   ĐHQG TP.HCM 2008 Hoàng Đình Tín  Hoàng Thị Nam Hương 

 

9

  Giáo trình Turbine hơi nước và turbine khí   ĐHQG TP.HCM 2007 Nguyễn Văn Tuyên   

 

 

10

  Nguyên lý tự động điều khiển hệ thống thiết bị lạnh và điều hòa không khí   ĐHQG TP.HCM 2007 Hoàng Đình Tín 

Hoàng Chí Thành
Huỳnh Ngọc Dương

 

11

  Máy lạnh hấp thụ trong kỹ thuật điều hòa không khí   ĐHQG TP.HCM 2004 Lê Chí Hiệp   
12   Kỹ thuật điều hòa không khí (in lần thứ 5)   KHKT 2001 Lê Chí HIệp   
13   Truyền nhiệt và tính toán thiết bị trao đổi nhiệt   KHKT 2001 Hoàng Đình Tín   
 14   Cơ sở truyền nhiệt   ĐHQG TP.HCM 2001 Hoàng Đình Tín   
 15   Nhiệt công nghiệp   ĐHQG TP.HCM 2001 Hoàng Đình Tín   
16   Nhà máy nhiệt điện   ĐHQG TP.HCM 1998 Trần Thanh Kỳ   

17

  Nhiệt động lực học kỹ thuật   ĐHQG TP.HCM 1997 Hoàng Đình Tín - Lê Chí Hiệp   


18

  Bài tập nhiệt động lực học và truyền nhiệt   Giáo Dục 1996 Hoàng Đình Tín - Bùi Hải   
19   Máy lạnh   Giáo Dục 1994 Trần Thanh Kỳ   
20   Thiết kế lò hơi   ĐHQG TP.HCM 1990 Trần Thanh Kỳ   

 

10. Hợp tác trong và ngoài nước
Ngoài nước:
    • Đại học Hokkaido và Đại học Keio (Nhật Bản). Đại Hoc Kyoto (Nhật Bản).
    • ITB (Indonesia).
    • KIER (Korea Institute of Energy Research).
    • SEE Forum (Sustainable Energy & Environment)

Trong nước:
    • Viện Khoa Học Công Nghệ Nhiệt Lạnh Đại Học Bách Khoa Hà Nội.
    • Khoa Công Nghệ Nhiệt Lạnh, Đại Học Bách Khoa – Đại Học Đà Nẵng.
    • Khoa Cơ Khí – Động Lực, Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP Hồ Chí Minh.
    • Khoa Cơ Khí Công Nghệ, Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh.
    • Đại Học Nha Trang.

Các công ty hoạt động trong lĩnh vực lạnh:
    • Công ty Cơ Nhiệt Điện Lạnh Bách Khoa
    • Công ty Daikin Việt Nam
    • Công ty Hisense Hitachi Việt Nam
    • Công ty Mitsubishi Electric Việt Nam
    • Công ty LG Electronics Việt Nam
    • Văn phòng đại diện hãng máy nén Bitzer tại TP Hồ Chí Minh
    • Công ty TNHH Kỹ nghệ lạnh Á Châu - Arico (Searefico)
    • Công ty TNHH Năm Dũng
    • Công ty dịch vụ cơ nhiệt Hữu Nghị
    • Công ty cổ phần điện máy Ree
    • Công ty cổ phần công nghiệp lạnh Hưng Trí

Các công ty hoạt động trong lĩnh vực nhiệt:
    • Công ty cơ nhiệt Hồng Nhựt
    • Công ty nồi hơi Minh Phát
    • Công ty bia Việt Nam
    • Các công ty hoạt động trong các lĩnh vực có liên quan đến ngành nghề đào tạo của bộ môn:
    • Trung tâm tiết kiệm năng lượng TP.HCM (ECC)
    • Trung tâm nghiên cứu và phát triển bảo toàn năng lượng (ENERTEAM)
    • Công ty cổ phần đầu tư và phát triển năng lượng bền vững Bách Khoa


11. Địa chỉ và thông tin liên hệ

Địa chỉ:       Nhà B5, 268 Lý Thường Kiệt, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh
Điện thoại: (84.8).38 647 256 ext.5897
Email:          This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Website:      www.nhietlanh.net
Facebook:   Nhiệt lạnh ĐHBK HCM

 

Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh gồm các thầy cô có nhiều kinh nghiệm, được đào tạo trong và ngoài nước, sẵn sàng trang bị cho sinh viên, học viên những kiến thức chuyên ngành Nhiệt Lạnh.

 

 

STT

 

Họ tên

Học hàm/Học vị

 

Các môn giảng dạy 

 

Hướng nghiên cứu 




1 



Lê Chí Hiệp 
 


 Giáo sư, Tiến sĩ
 - Kỹ thuật lạnh
 - Điều hòa không khí
 - Năng lượng tái tạo,
 - Nhiệt động và truyền nhiệt 
 - Máy lạnh hấp thụ trong kỹ thuật điều hòa không khí
 - Sử dụng năng lượng mặt trời để làm lạnh, cung cấp nước nóng, sấy, chưng cất nước và sinh công cơ học.
 - Tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng.
 - Mối quan hệ giữa năng lượng và môi trường.
 - Máy lạnh hấp thụ.
 - Công nghệ làm lạnh bay hơi và tách ẩm bằng chất hút ẩm.









Hà Tùng Anh

 




 Giảng viên chính, Tiến sĩ 
 - Kỹ thuật lạnh
 - Điều hòa không khí
 - Năng lượng tái tạo 
 - Nhiệt động và truyền nhiệt
 - Truyền nhiệt nâng cao
 - Anh văn chuyên ngành
 - Vật liệu nhiệt lạnh
 - Kỹ thuật thông gió công nghiệp
 - Ứng dụng phương pháp số trong tính toán truyền nhiệt, đưa các phần mềm thiết kế, đồ họa vào các môn chuyên ngành,
 - Sử dụng năng lương mặt trời để cấp nhiệt / phát điện
 - Nghiên cứu chế tạo động cơ gió cho qui mô gia đình
 - Các giải pháp tận dụng nhiệt thải và tiết kiệm năng lượng 



Nguyễn Văn Tuyên 

 Giảng viên chính, Tiến sĩ 
 - Lò hơi và thiết bị đốt
 - Trung tâm nhiệt điện
 - Quá trình cháy
 - Thu hồi nhiệt thải
 - Hệ thống và thiết bị nhiệt công nghiệp.
 - Thiết bị lò hơi và thiết bị chịu áp lực.
 -  Kỹ thuật cháy.
 - Công nghệ về nhiên liệu sinh khối.
 - Sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng









Bùi Ngọc Hùng



 
 Giảng viên chính, Tiến sĩ 
 - Nhiệt động và truyền nhiệt,
 - Thiết bị sấy,
 - Điện trong hệ thống lạnh,
 - Đo lường và Tự động hóa hệ thống lạnh,
 - Bơm Quạt Máy nén,
 - Dòng 2 pha,
 - Kỹ thuật lạnh công nghiệp
 - Thiết kế các hệ thống điều hòa và xử lý không khí
 - Ống nhiệt
 - Năng lượng mặt trời
 - Bơm nhiệt
 - Thiết bị lạnh công nghiệp
 - Các hệ thống điều khiển và tự động hóa trong lĩnh vực Nhiệt lạnh


Trần Văn Hưng

 


 Tiến sĩ 

 - Nhiệt động và Truyền nhiệt,
 - Tuabin hơi và tuabin khí,
 - Trung tâm nhiệt điện 
 - Điều hòa không khí,
 - Kỹ thuật sấy
 - Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng.







Nguyễn Minh Phú  



 Tiến sĩ 
 - Nhiệt động và Truyền nhiệt,
 - Bơm, quạt, máy nén,
 - Phương pháp số trong truyền nhiệt,
 - Thiết kế hệ thống năng lượng
 - Tin học ứng dụng trong kỹ thuật nhiệt lạnh 
 - Điều hòa không khí
 - Phương pháp số trong truyền nhiệt
 - Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng

 

Nguyễn Văn Hạp

 Tiến sĩ 
 - Nhiệt động và Truyền nhiệt
 - Kỹ thuật lạnh 
 - Năng lượng mặt trời,
 - Điều hoà không khí,
 - Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng. 

Hoàng Thị Nam Hương 
 Thạc sĩ 
 - Nhiệt động và Truyền nhiệt,
 - Tuabin hơi và tuabin khí 
 - Năng lượng tái tạo.
 - Kỹ thuật lạnh và Điều hoà không khí.
 - Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng.




Nguyễn Thị Minh Trinh 


 Thạc sĩ 
 - Nhiệt động và Truyền nhiệt,
 - Kỹ thuật sấy,
 - Đo lường và Tự động hóa hệ thống lạnh
 - Kinh tế năng lượng
 - Kỹ thuật lạnh và điều hòa không khí.
 - Kỹ thuật sấy
 - Năng lượng tái tạo
 - Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng.

10 

Võ Kiến Quốc 

 Thạc sĩ 
 - Nhiệt động và Truyền nhiệt
 - Lò hơi và thiết bị đốt,
 - Thiết bị trao đổi nhiệt
 - Năng lượng mặt trời,
 - Điều hoà không khí,
 - Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng. 


11 


Phan Thành Nhân 


 Thạc sĩ 
 - Nhiệt động và Truyền nhiệt
 - Kỹ thuật thông gió công nghiệp
 - Kỹ thuật sấy 
 - Năng lượng mặt trời,
 - Điều hoà không khí,
 - Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng.

12 
Huỳnh Phước Hiền   
 Thạc sĩ 
 - Nhiệt động và Truyền nhiệt   - Năng lượng mặt trời,
 - Kỹ thuật lạnh và điều hoà không khí 

13 

 

Ngô Thiên Tứ 
 
 Thạc sĩ 
 - Hỗ trợ giảng dạy các môn thực hành/thí nghiệm   - Nghiên cứu các lĩnh vực về nhiệt mặt trời.
 - Hệ thống điều hòa không khí trung tâm.
 - Sử dụng hiệu quả, tiết kiệm năng lượng.

14 

Nguyễn Văn Hạnh 

 
 
 
 Kỹ sư 

 - Thực tập kỹ thuật
 - Thực tập tốt nghiệp
 - Nhiệt động lực học và truyền nhiệt (Thí nghiệm)
 - Kỹ thuật lạnh
 - Kỹ thuật điều hòa không khí 

1.    Lịch sử Bộ môn Công nghệ Nhiệt lạnh
       Kể từ 30/4/1975 cho đến nay, lịch sử Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh có thể được chia làm 3 giai đoạn: (i) từ 1975 cho đến 1986, (ii) từ 1986 cho đến 2002 và (iii) từ 2002 cho đến hiện nay.
1.1. Giai đoạn từ 1975 cho đến 1986
       Sau 30/4/1975, Bộ môn Cơ lưu chất - Nhiệt được thành lập trên cơ sở một số Thầy có cùng chuyên môn của Học viện Kỹ thuật Phú Thọ kết hợp với một số Thầy từ miền Bắc mới chuyển vào.
       Như vậy, vào giai đoạn ban đầu này, Bộ môn Cơ lưu chất - Nhiệt có hai nguồn cán bộ: (i) nguồn cán bộ tại chỗ bao gồm cả nguồn cán bộ từ Trường chuyên nghiệp trung cấp chuyển sang và (ii) nguồn cán bộ từ miền Bắc mới chuyển vào. Trong số những cán bộ tại chỗ của Bộ môn có các Thầy Nguyễn Thiện Tống, Thầy Sang, Thầy Tòng, Thầy Thắng và Thầy Tâm. Ngay từ những năm đầu sau ngày giải phóng, Thầy Nguyễn Thiện Tống đã được cử giữ nhiệm vụ Phó Chủ nhiệm khoa Cơ khí kiêm Tổ phó Bộ môn Cơ lưu chất - Nhiệt. Sau một vài năm thì Thầy Nguyễn Thiện Tống chuyển sang Bộ môn Cơ lưu chất, sau một vài năm nữa thì Thầy Nguyễn Thiện Tống chuyển sang làm Chủ nhiệm Bộ môn Kỹ thuật Hàng không cho đến khi về hưu. Các Thầy từ miền Bắc chuyển vào sau năm 1975 gồm có TS Lê Quế Kỳ, TS Trần Thanh Kỳ và KS Hoàng Đình Tín; sau đó lại có thêm TS Phạm Duy Hồng và TS Nguyễn Hà Thanh.
       Những năm tiếp sau đó, vào khoảng 1978 – 1979, Bộ môn Cơ lưu chất - Nhiệt tiếp nhận thêm những cán bộ trẻ khác như Thầy Nguyễn Nhựt, Thầy Nguyễn Tấn Phương, Thầy Lê Chí Hiệp, Thầy Nguyễn Văn Tuyên và Thầy Nguyễn Sơn Hải.
       Vào thời kỳ ngay sau năm 1975, Bộ môn Cơ lưu chất - Nhiệt đã có một lực lượng TS khá hùng hậu như TS Nguyễn Thiện Tống, TS Lê Quế Kỳ, TS Trần Thanh Kỳ, TS Phạm Duy Hồng và TS Nguyễn Hà Thanh.
       Đầu năm học 1977 – 1978, Thầy Hoàng Đình Tín được cử làm Phó Chủ nhiệm khoa kiêm nhiệm Bí thư Đảng ủy khoa Cơ khí.
       Cuối năm học 1977 – 1978, ba Bộ môn Nhiệt công nghiệp (Cơ lưu chất - Nhiệt), Bộ môn Ô tô và Bộ môn Máy xây dựng - bốc xếp được tách ra khỏi khoa Cơ khí để thành lập khoa Động lực. Theo quyết định số 813/QĐ-CB của Bộ ĐH và THCN ký ngày 31 tháng 07 năm 1979 thì TS Trương Minh Vệ làm Chủ nhiệm khoa Động lực, KS Trần Văn Khang làm Phó Chủ nhiệm khoa kiêm Bí thư Đảng ủy khoa Động lực, sau đó bổ sung KS Hoàng Đình Tín làm Phó Chủ nhiệm khoa.
       TS Lê Quế Kỳ là Tổ trưởng Bộ môn Nhiệt công nghiệp (Cơ lưu chất - Nhiệt) ngay từ những ngày đầu mới thành lập. Sau khi KS Trần Văn Khang chuyển công tác ra khỏi trường thì TS Lê Quế Kỳ được cử làm Phó Chủ nhiệm khoa Động lực, lúc này TS Phạm Duy Hồng đảm nhận nhiệm vụ Tổ trưởng Bộ môn. Sau một vài năm thì TS Phạm Duy Hồng lần lượt kiêm thêm nhiệm vụ Phó chủ nhiệm Khoa Cơ khí và Trưởng phòng vật tư của trường.
       Trường Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh những năm đầu sau Giải phóng tuyển sinh khá ít, toàn trường chỉ tuyển khoảng 400 sinh viên/năm với chỉ một hệ đào tạo chính quy, thời gian đào tạo 5 năm. Mỗi ngành chỉ có khoảng từ 16 – 20 sinh viên/lớp. Ngoài công việc giảng dạy, các Thầy/Cô giáo còn kiêm thêm nhiệm vụ canh gác trường vào ban đêm.
       Công việc giữa các Thầy/Cô được phối hợp rất ăn ý, từ các Chủ nhiệm khoa như TS Nguyễn Ngọc Cẩn, TS Trương Minh Vệ, TS Phạm Phố đến Ban giám hiệu như Hiệu phó TS Huỳnh Văn Hoàng, Hiệu trưởng TS Trần Hồng Quân. Các Thầy thường xuống các Bộ môn để lấy ý kiến các Tổ trưởng bộ môn và các cán bộ chủ chốt về chương trình đào tạo, phối hợp giữa các ngành để làm sao chương trình đào tạo ngắn gọn, hợp lý nhằm đảm bảo cung cấp đủ các kiến thức nền tảng cho sinh viên nhưng tránh không bị rườm rà và trùng lặp. Qui chế học tập ngắn gọn nên Thầy/Cô giáo và sinh viên đều nắm rất rõ. Sinh viên nghiêm túc chịu khó suy nghĩ, hiểu rõ bản chất vấn đề. Các Thầy/Cô kiểm soát lớp rất tốt để giúp đỡ sinh viên. Sinh viên ngày ấy phải trả hết nợ môn học mới được làm luận văn tốt nghiệp, do đó sinh viên làm luận văn rất tập trung, chịu khó tham khảo tài liệu và tiếp xúc với các Thầy/Cô để khai thác kiến thức.
       Sau năm 1981, khoa Động lực giải thể và sáp nhập trở lại khoa Cơ khí do GS.TSKH Phạm Phố làm Chủ nhiệm khoa. GS.TSKH Trương Minh Vệ trở về làm Tổ trưởng bộ môn Máy xây dựng và Bốc xếp. Đến năm 1988, qua cuộc bầu cử trực tiếp Hiệu trưởng lần đầu tiên của trường, GS.TSKH Trương Minh Vệ trở thành Hiệu trưởng cho đến năm 1998.
       Trong giai đoạn này, bên cạnh hoạt động đào tạo đại học, các Thầy ở Bộ môn còn tham gia rất nhiều các hoạt động lao động sản xuất và chuyển giao công nghệ. Người tổ chức và chỉ đạo trực tiếp các hoạt động này là TS Trần Thanh Kỳ.

1.2.   Giai đoạn từ 1986 cho đến 2002
       Năm 1986 Bộ môn Nhiệt công nghiệp được tách ra khỏi Khoa Cơ khí và trở thành Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới. Đây là Trung tâm trực thuộc trường và do PGS.TS Trần Thanh Kỳ làm Giám đốc.
       Giai đoạn từ năm 1986 trở đi là giai đoạn bùng nổ về việc tiếp nhận nhân sự, trong đó đa số là nhân sự trẻ mới vừa tốt nghiệp các trường đại học trong và ngoài nước. Vào những năm từ 1986 – 1989, Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới lần lượt tiếp nhận hai sinh viên mới vừa tốt nghiệp từ Liên Xô trở về là Thầy Trần Lưu Dũng và Thầy Nguyễn Đình Thọ, sau đó tiếp nhận thêm Cô Dương Thị Thanh Lương từ miền Bắc chuyển vào. Tiếp theo đó, từ năm 1989 – 1992, Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới lại giữ thêm một số sinh viên trẻ vừa mới tốt nghiệp trong nước để bổ sung cho lực lượng giảng dạy, đó là các Thầy Nguyễn Thế Bảo, Thầy Bùi Ngọc Hùng, Thầy Lê Hùng Tiến và Thầy Trần Ngọc Hợp. Cũng trong thời kỳ này, Thầy Cao Trường Thiên và Thầy Nguyễn Văn Hoài chuyển từ Xưởng điện của trường sang công tác tại Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới. Vài năm sau đó nữa thì tiếp tục giữ lại Thầy Hà Anh Tùng, Thầy Phan Thanh Tòng và Cô Hoàng Thị Nam Hương.
       Về lực lượng TS, năm 1990 Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới có thêm TS Lê Chí Hiệp, cuối năm 1991 có thêm TS Hoàng Đình Tín và cuối năm 1998 lại có thêm TS Nguyễn Thế Bảo. Tuy nhiên, cùng với lực lượng TS mới được bổ sung, lực lượng TS của Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới cũng lại bị sụt giảm nghiêm trọng do một số Thầy chuyển công tác như TS Nguyễn Thiện Tống, TS Phạm Duy Hồng và TS Nguyễn Hà Thanh. Riêng TS Lê Quế Kỳ đã mất vào năm 1989.
       Tiếp tục truyền thống trước đó, trong một khoảng thời gian dài bên cạnh nhiệm vụ đào tạo đại học, Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới còn được xem là một địa chỉ đáng tin cậy, một ngọn cờ đầu trong khu vực các tỉnh phía nam về việc gia công/chế tạo các sản phẩm có liên quan đến kỹ thuật nhiệt. Trong thời kỳ này, Thầy Nguyễn Nhựt giữ nhiệm vụ Trưởng xưởng C3 và Thầy Nguyễn Văn Tuyên giữ nhiệm vụ Phó xưởng C3. Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là các hoạt động lao động sản xuất/chuyển giao công nghệ được triển khai hết sức mạnh mẽ. Dưới sự chỉ đạo của Thầy Trần Thanh Kỳ, trong giai đoạn này Thầy Nguyễn Nhựt là nhân tố nổi bật trong việc triển khai các hoạt động lao động – sản xuất/chuyển giao công nghệ của Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới. Các sản phẩm của xưởng khá đa dạng, bao trùm hầu hết các loại sản phẩm có liên quan mà xã hội đang có nhu cầu, tuy nhiên dòng sản phẩm chủ lực của xưởng là các loại lò hơi công nghiệp năng suất nhỏ. Cùng với các sản phẩm kỹ thuật nhiệt, khoảng từ năm 1990 trở đi thì Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới còn đẩy mạnh các sản phẩm về năng lượng tái tạo. Vào thời kỳ này, Thầy Lê Chí Hiệp là người chủ trì triển khai các dòng sản phẩm nước nóng mặt trời. Cùng với đó, Cô Dương Thị Thanh Lương là người chủ trì phát triển các dòng sản phẩm về động cơ gió thông qua các đề tài/dự án. Có thể nói, vào thập niên những năm 90, chính Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới của trường Đại học Bách khoa Tp Hồ Chí Minh là đơn vị đi tiên phong trong lĩnh vực nước nóng mặt trời và động cơ gió.
       Trong giai đoạn này, PGS.TS Hoàng Đình Tín được nhà nước phong tặng danh Hiệu Nhà Giáo ưu tú vào năm 1994; PGS.TS Trần Thanh Kỳ được bổ nhiệm Hiệu phó từ năm 1989 đến năm 1992 và tiếp tục kiêm nhiệm Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới, năm 2000 PGS.TS Trần Thanh Kỳ được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú; Thầy Lê Chí Hiệp được cử giữ chức vụ Phó phòng KHCN-SĐH và QHQT của trường từ năm 1990 cho đến 1994, sau đó tiếp tục giữ chức vụ Trưởng phòng QHQT từ năm 1997 cho đến năm 2002.

1.3. Giai đoạn từ 2002 cho đến hiện nay
       Đầu năm 2002, theo chỉ đạo của Hiệu trưởng nhà trường, Thầy Lê Chí Hiệp đã đứng ra thành lập Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh và Hiệu trưởng đã ký quyết định thành lập Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh vào ngày 22/01/2002. Vào lúc thành lập Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh, PGS.TS Trần Thanh Kỳ tiếp tục ở lại làm Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới, tất cả các Thầy/Cô giáo còn lại đều chuyển biên chế sang Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh. Bắt đầu từ thời điểm này, Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh quay trở lại là một đơn vị thuộc khoa Cơ Khí của trường Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới vẫn còn tồn tại cho đến cuối năm 2006. Năm 2003, sau khi từ nước ngoài trở về, Thầy Nguyễn Văn Tuyên đã được cử giữ nhiệm vụ Giám đốc Trung tâm cho đến cuối năm 2006.
       Ngay từ những ngày đầu mới được thành lập, Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh đã giữ thêm một số sinh viên vừa mới tốt nghiệp để bổ sung lực lượng, đó là Cô Nguyễn Thị Minh Trinh, Thầy Võ Kiến Quốc và Thầy Nguyễn Toàn Phong. Sau đó một vài năm, lại có thêm các Thầy Nguyễn Minh Phú, Thầy Phan Thành Nhân, Thầy Huỳnh Phước Hiển, Thầy Nguyễn Văn Hạp, Thầy Nguyễn Văn Hạnh, Thầy Ngô Thiên Tứ và Thầy Vũ Hải Dương.
       Cho đến năm 2002, Trường Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh chưa có ngành đào tạo cao học về Công nghệ nhiệt. Đứng trước yêu cầu bức bách của xã hội, năm 2001 Thầy Lê Chí Hiệp đã đứng ra đề xuất và chủ trì xây dựng đề án đào tạo cao học ngành Công nghệ nhiệt. Trong quá trình chuẩn bị đề án, TS Nguyễn Thế Bảo là một trong những nhân tố tích cực cùng tham gia xây dựng chương trình đào tạo cao học ngành Công nghệ nhiệt.
       Tại thời điểm xây dựng chương trình đào tạo cao học ngành Công nghệ nhiệt, cả Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh và Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới chỉ còn lại 4 Thầy có học vị Tiến sĩ là các Thầy Trần Thanh Kỳ, Thầy Hoàng Đình Tín, Thầy Lê Chí Hiệp và Thầy Nguyễn Thế Bảo. Vào năm 2003, Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh và Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới lại có thêm 2 Tiến sĩ nữa là các Thầy Nguyễn Văn Tuyên và Thầy Bùi Ngọc Hùng. Từ năm 2008 trở đi, Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh đã tiếp nhận thêm TS Hà Anh Tùng từ Canada trở về và TS Trần Văn Hưng từ Bungari về gia nhập đội ngũ.
       Chủ nhiệm Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh từ ngày đầu mới thành lập cho đến hiện nay là Thầy Lê Chí Hiệp. Trên cơ sở đề án đào tạo cao học được xây dựng từ năm 2001, năm 2002 Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh đã bắt đầu đào tạo khóa cao học đầu tiên với tên gọi là Công nghệ nhiệt, đây được xem là chương trình đào tạo cao học ngành Công nghệ nhiệt đầu tiên trong các tỉnh phía nam. Hiện nay chương trình đào tạo cao học có tên gọi là Kỹ thuật nhiệt. Trọng tâm của chương trình cao học Kỹ thuật nhiệt bao gồm 3 cụm vấn đề: (i) các kiến thức khoa học nâng cao, (ii) tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng trong kỹ thuật nhiệt lạnh và (iii) kỹ thuật năng lượng tái tạo, trong đó tập trung chủ yếu vào năng lượng mặt trời và năng lượng gió. Từ kết quả của chương trình đào tạo cao học Công nghệ nhiệt, một số cựu học viên đã hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ trong và ngoài nước, đó là: PGS.TS Hoàng An Quốc, PGS.TS Đặng Thành Trung, TS Nguyễn Minh Phú, TS Nguyễn Văn Hạp, TS Lê Minh Nhựt và TS Nguyễn Hữu Nghĩa, trong số đó TS Nguyễn Minh Phú và TS Nguyễn Văn Hạp là người của Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh. Tại thời điểm tháng 5/2016, có thêm 7 cựu học viên khác hiện cũng đang thực hiện chương trình đào tạo tiến sĩ trong và ngoài nước, trong số đó có 4 cựu học viên hiện đang là nhân sự thuộc biên chế của Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh.
       Bên cạnh các hoạt động khoa học và đào tạo khác, đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là công tác đào tạo sau đại học được phát triển rất mạnh. Về hoạt động này, Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh được xem là nguồn khởi phát và là hạt nhân trong đào tạo sau đại học về Công nghệ nhiệt trong khu vực các tỉnh phía nam. Thầy Lê Chí Hiệp là người giữ vai trò quan trọng trong công tác đẩy mạnh các hoạt động đào tạo sau đại học trong giai đoạn này.
       Cũng trong giai đoạn này, PGS.TS Hoàng Đình Tín được nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân vào năm 2010, Thầy Lê Chí Hiệp được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú vào năm 2008 và được HĐCDGSNN công nhận chức danh Giáo sư vào năm 2010.
Ngoài nhiệm vụ đào tạo đại học và sau đại học về kỹ thuật nhiệt lạnh, Bộ môn còn tập trung nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các thiết bị thuộc lĩnh vực nhiệt lạnh và năng lượng tái tạo. Bên cạnh đó, các thành viên trong Bộ môn còn tham gia rất tích cực vào nhiều loại hình hoạt động khoa học khác nhau ở cả trong và ngoài nước, nhất là các hoạt động về Sử dụng hiệu quả năng lượng và Năng lượng tái tạo.
       Trong suốt thời kỳ kể từ Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới trước đây cho đến Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh sau này, các Thầy/Cô đã và đang làm việc ở Trung tâm và Bộ môn luôn ghi nhận sự đóng góp công sức của các Cô giữ nhiệm vụ Thư ký; đó là Cô Phạm Thị Khắc, Cô Vương Thị Kim Cúc, Cô Nguyễn Thị Hồng, Cô Nguyễn Thanh Uyên, Cô Trần Thu Hiền, Cô Hoàng Ngọc Như Mai và gần đây nhất là Cô Lê Thị Kim Liên. Trong số đó Cô Nguyễn Thị Hồng là thư ký gắn bó rất lâu dài với Trung tâm và ngay cả Bộ môn sau này.
       Trải qua một giai đoạn lịch sử hơn 40 năm với rất nhiều biến đổi, một số Thầy/Cô đã mất, một số Thầy/Cô đã chuyển công tác hoặc đã nghỉ hưu, hiện nay Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh chỉ còn lại 15 người. Mặc dù vậy, toàn thể Thầy/Cô Bộ môn nguyện đoàn kết và toàn tâm toàn ý đem hết sức lực của mình để đào tạo đội ngũ kế thừa, tiếp nối những thành tựu tốt đẹp mà các thế hệ đi trước đã để lại.

2.    Khen thưởng

       PGS.TS HOÀNG ĐÌNH TÍN:
           NGƯT: 1994
           NGND: 2010
       PGS.TS TRẦN THANK KỲ:
           NGƯT: 2000
       GS.TS LÊ CHÍ HIỆP:
           NGƯT: 2008
           Huân chương Lao động hạng ba: 2011

3.    Chủ nhiệm Bộ môn qua các thời kỳ

 

Giai đoạn

Tên đơn vị

Chủ nhiệm/

Giám đốc

Hình

1977 - 1981

Bộ môn Nhiệt công nghiệp

TS Lê Quế Kỳ

 

1981 - 1985

Bộ môn Nhiệt công nghiệp

TS Phạm Duy Hồng

 

1986 - 2003

Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới

PGS.TS Trần Thanh Kỳ

 

2003 - 2006

Trung tâm nghiên cứu Thiết bị Nhiệt và Năng lượng mới

TS Nguyễn Văn Tuyên

 

2002 – hiện nay

Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh

GS.TS Lê Chí Hiệp

 

 

 

Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh - Khoa Cơ Khí- Trường Đại Học Bách Khoa

Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Nhà B5, 268 Lý Thường Kiệt, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh

Điện thoại: 08.38 647 256 ext.5897

Email: cnnhietlanh@hcmut.edu.vn

Facebook: Nhiệt lạnh ĐHBK HCM

093041
Hôm nay
Tổng cộng
426
93041

Facebook

Joomla Templates - by Joomlage.com